1. Tâm phế mạn là gì

Tâm phế mạn (TPM) là tình huống phì đại và giãn tâm thất phải thứ phát do tăng áp lực động mạch phổi (ALĐMP), gây nên bởi những bệnh làm tổn thương công dụng hoặc cấu trúc của phổi như các bệnh của phế quản, phổi, huyết quản , thần kinh và xương lồng ngực.

Định nghĩa này không bao gồm những tình huống tăng áp lực động mạch phổi do bệnh tim trái (như hẹp van 2 lá), bệnh tim bẩm sinh.

Tỉ lệ phát bệnh cao ở tuổi trung niên và người lớn tuổi (trên 40 tuổi) và 80% – 90% là do viêm phế quản mạn, giãn phế quản, phế khí thũng, và hen phế quản.

Ở Việt Nam: Nguyên nhân hay gây tâm phế mạn là viêm phế quản kinh niên và hen phế quản chiếm tỷ trọng 76,5%.

2. Triệu chứng của tâm phế mạn

Giai đoạn đầu: các hiện tượng của các bệnh gây ra tâm phế mạn

Triệu chứng của bệnh phổi tắc nghẽn kinh niên : ho nhiều, khạc đờm, khó thở .

Triệu chứng của bệnh phổi hạn chế: lao xơ, quái gở lồng ngực, xơ phổi, do cắt phổi.

Giai đoạn tăng áp lực động mạch phổi:

  • Khó thở khi gắng sức luôn luôn có. Ho, khạc đờm
  • Móng tay khum. Nghe tim: tiếng T2 mạnh ở ổ van động mạch phổi.

Giai đoạn suy thất phải:

  • Khó thở tăng dần: khó thở khi gắng sức .
  • Đau vùng gan: cảm giác nặng hoặc căng vùng gan,
  • Phù: phù chân, phù toàn thân, có khi cổ trướng. tĩnh mạch cổ nổi.
  • Tím: là dấu muộn, tím môi, có khi tím đen.
  • Mắt lồi và đỏ do tăng huyết quản màng tiếp hợp như mắt ếch.
  • Ngón tay dùi trống.Tiểu ít
  • Tim nhịp nhanh, có thể có loạn nhịp hoàn toàn.

3. Tiến triển của bệnh tâm phế mạn

Tâm phế mạn phát triển thong thả , gây tổn thương công dụng và cấu trúc của phổi dẫn đến suy hô hấp, suy tim phải và rút cục là suy tim toàn cục . Ngày nay dù có nhiều chính sách điều trị hiện đại , nhưng suy tim phải vẫn chiếm một tỷ trọng tử chiến rất lớn : 60 – 70%.

Nếu bệnh nhân được theo dõi và điều trị tốt thì bệnh có thể ổn định , 10 – 20 năm hoặc lâu hơn nữa mới có biến chứng suy tim, có tình huống có thể chung sống với bệnh suốt đời.

Tiên lượng bệnh dựa vào căn bản vào việc kiểm soát tốt bệnh phổi nền. Trong nhóm bệnh phổi tắc nghẽn bệnh viêm phế quản kinh niên phát triển nhanh; còn trong nhóm bệnh hạn chế các bệnh như gù vẹo, quái gở lồng ngực nếu không bị bội nhiễm phổi có thể vạn thọ mà không tiến đến TPM.

4. Điều trị tâm phế mạn

  • Chế độ ngơi nghỉ , ăn uống: bệnh nhân bị bệnh phổi kinh niên khi hình thành khó thở, nên ngơi nghỉ , làm việc nhẹ, khi có dấu hiệu suy tim phải cần nghỉ hoàn toàn.
  • Ăn ít muối
  • Tập thở: rất cần thiết , làm tăng độ trương nở của phổi và lồng  ngực


  • Kháng sinh: khi bội nhiễm phải điều trị kháng sinh liều cao kéo dài.
  • Corticoid: có công dụng chống viêm chống dị ứng, giảm xuất tiết
  • Prednisolon, hydrocortison (khí dung).
  • Thuốc giãn phế quản: Theophylin, Aminophylin.
  • Ô xy liệu pháp:  thở ô xy qua ống thông mũi, giúp giảm sự co mạch do thiếu ôxy máu.
  • Trợ tim và lợi tiểu:
    • Digoxin phải hết sức thận trọng có thể gây loạn nhịp, chỉ nên sử dụng khi suy tim còn bù.
    • Lợi tiểu: lợi tiểu quai, Diamox
  • Chích huyết: Chỉ định: đa hồng cầu Hct ≥ 65%
    • Mục tiêu: Hct ≤ 45%
    • Lượng máu trích tùy thuộc trọng lượng cơ thể và bệnh lý hẳn nhiên , thường là 300 ml máu/lần.
  • Không dùng các thuốc: Morphin, Gacdenal.
  • Thuốc giãn huyết quản phổi: Hydrabazin.

5. Dự phòng tâm phế mạn

  • Điều trị hăng hái các bệnh đường hô hấp.( hen phế quản, phổi tắc nghẽn kinh niên …)
  • Loại bỏ các chất kích thích: rượu, thuốc lá, cà phê, khói bụi…
  • Khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm bệnh phế quản, phổi để điều trị kịp thời.
  • Khi có bệnh phổi kinh niên cần khám liên tục , tuân thủ y lệnh điều trị .
  • Tiêm vacxin phòng cúm, phòng phế cầu để tránh các đợt bội nhiễm.
  • Chế độ sinh hoạt hợp kỹ thuật , số đông dục liên tục , chính sách ăn đủ chất, có lí sẽ mang lại sức khoẻ tốt có thể chống đỡ được bệnh 

Liên hệ DSĐH drugsstore.org để được khuyến cáo tốt nhất.